THỊT NGƯỜI

 2018 Sơ tuyển 越南文初選 

📜 THỊT NGƯỜI

👤 Nguyen Nhat Huy

 

“Biển xanh rợn. Những thảm nắng cháy đề lên nhau, quằn quại trên lớp da nhơm nhớp mồ hôi. Tất cả chúng tôi bị trói như những con lợn trên bong tầu. Hai gã da đen cơ bắp căng phồng cầm những khẩu AK đi loanh quanh. Mắt chúng là những con sói đói hau háu nhìn đám đàn bà đang bị lột trần bóng nhẫy dưới cái gió mặn chát của biến.”

Cuốn nhật ký tôi nhặt được trên một con tàu cũ nát có lẽ là những mảng hiện thực dữ dội hơn các hư cấu mà giới văn chương thường xây dựng. Những chuyến buôn người đường biển và sự đày đọa khốn cùng luôn biến động cùng sóng biển, cùng máu và thú tính. Có những hiện thực khốc liệt khuất lấp sau mặt biển nơi linh hồn con người gào thét, giằng xé để sinh tồn, nơi những oan hồn nằm dưới biển mọc rêu mong manh chờ những đêm trăng mờ ngoi lên đòi nợ.

“Ngày thứ nhất. Lũ buôn người có 5 tên. Hai tên da đen, 2 tên da vàng và 1 tên da trắng. Một tên da vàng có vẻ như người gốc Hoa. Hắn có vẻ như là thủ lĩnh với cặp mắt ti hí và đôi môi luôn mím chặt. 4 gã còn lại thì cơ bắp. Hàm bạnh ra và có vẻ man dại. Sự man dại của những con thú mạnh. Mỗi chuyến hàng thịt người sống chúng thu lợi nhuận cực cao nhưng rủi ro cũng vô cùng lớn nên mọi thao tác cần phải chính xác. Sự chính xác khiến chúng căng thẳng đến co giật những đường thân kinh trên trán khi đi qua những vùng nguy hiểm. Những chuyến tầu có khi vòng vèo cả tháng trời ẩn núp để tránh lực lượng tuần tra hoặc tránh bão. Và trong các cuộc thoại của bọn chúng dường như khâu nguy hiểm nhất là nhập vào đất liền nơi chúng tôi bị tiêu thụ. Trong tưởng tượng của tôi, chúng tôi có thể sẽ bị đem nhốt vào lồng như chó lợn đem bán ở chợ, đẩy vào nhà thổ hoặc đem mổ lấy nội tạng. Tất cả những ám ảnh kinh hãi đó như khiến tôi muốn chết đi. Giữa biển khơi mênh mông này đức tin vào Chúa trời cũng như những bóng đảo mờ nhạt sau màn sương hoặc nắng. Tên da đen đi qua thấy mắt tôi trừng trừng nhìn hắn. Hắn liền nhổ ngay một bãi đờm vào mặt tôi sau đó là nóng súng dí sát đầu. Ngày thứ nhất trôi qua trong không khi ngột ngạt của ánh nắng nhiệt đới và sự căng thẳng của nhưng kẻ buôn người cũng như sự sợ hãi của đống thịt sống chúng tôi”.

Chúa trước khi từ giã loài người đã gửi lại yên bình cho nhân gian. Tôi đứng dưới cổng vòm cao vời vợi. Những ánh nắng hắt qua ô cửa huyền nhiệm và cuốn nhật ký rách nát trên tay cứ băn khoăn về những gì Người để lại. Tôi tự hỏi cái tội lỗi từ bao giờ nó hiển nhiên và không cần băn khoăn về lẽ sám hối như vậy. Cái ác là hiển nhiên. Tôi ngoan đạo khấn những lời thì thầm về một cuộc tảy rửa tội lỗi. Thánh thót từ trên cao rơi xuống: Cứ bay ra ngoài khung cửa. Tôi lẽo đẽo đi trên con đường hối hả chen lấn. Tôi đi tìm khốc liệt mà tôi lần tránh trên dòng người kia.

“Ngày thứ 2. Tôi nằm ngửa. Trên người trần trụi đàn bà đang phô ra trước biển. Tôi nhìn trời. Bầu trời vẫn yên bình xanh vắt không mây. Máu ở mũi và mồm tôi khô két lại. Tôi bất động như đá khi đau đớn về thể xác và tinh thần cùng sự suy kiệt khiến những ý niệm về tình yêu trong tôi vỡ tan như bọt sóng. Lũ buôn người đang đưa chúng tôi đến lò mổ hoặc một cối xay nào đó để tạo nên những địa ngục ngay trước mặt của trời xanh. Đêm qua cả năm gã đàn ông lực lưỡng thay nhau hiếp tôi. Chúng cực khoái cùng với nắm đấm và báng súng. Sau những chống cự vô nghĩa của con người hoàn toàn trần trụi và cô đơn, tôi đã nằm như đá để chúng dày vò. Sức mạnh từ quần áo, từ tiền bạc, từ danh phận của tôi trong hoàn cảnh này chỉ là thứ rong rêu trước sóng biến dồn dập. Lúc đầu chúng nện báng súng vào đầu tôi. Ngất đi và tỉnh lại chỉ thấy máu nhòa mắt còn phần cơ thể đang bị dày vò bởi những cục thịt lì lợm cháy nắng. Trong cơn cực khoái giãy ngửa, chúng giật tóc và cào cấu lên tôi. Tôi nằm rũ ra với bầu ngực bị cắn nát. Và giờ chỉ có hoài niệm về bầu trời xanh nơi xứ sở còn bên tôi. Nỗi nhớ gia đình như một giọt cuối cùng cho tôi gượng dậy để ăn thứ đồ ăn bẩn thỉu mà lũ buôn người vứt cho. Tôi ăn. Ăn như một con chó. Ăn để tồn tại với cái khốc liệt mà chưa bao giờ tôi nghĩ tới.”

Trong nhiều kinh sách có nói đến ngày tận thế, ngày phán xét loài người. Kịch bản mà Chúa tạo ra cho một kết cục khi không còn ai vác cây thánh giá chuộc tội cho loài người. Quán bia đông người. Tôi nhìn sự yên bình thản nhiên sau những tiếng khà kéo dài bất tận. Con người lấp đầy mình bằng thức ăn để quên đi cảm giác trống rỗng. Đôi khi tôi tự hỏi tại sao giờ con người ta ăn uống nhiều như vậy. Hình như trong cạn kiệt tình yêu thì thức ăn là thứ làm người ta đầy lại. Đầy như những con lợn vô tri. Xa xưa khi Chúa tạo ra loài người bằng ý niệm đất sét, tôi không biết đó có phải thứ đất bị nhiễm độc không. Chắc là không bởi thời đó môi trường còn thanh sạch nhưng quả quyết mà nói đã là đất thì vô tri. Một lịch sử quá lớn để khái quát về cái vô tri đã tạo nên bi kịch của con người. Ý niệm tật nguyền đã hủy hoại thế giới. Trái đất giờ lỗ chỗ nhem nhuốc như cái mủ to đến thời kì phát nổ. Tôi lại lần dở trang nhật ký khốc liệt.

“Ngày thứ 3. Ngày hôm nay chúng đã bắn chết một trong 3 người đàn ông khi anh ta định bảo vệ tôi trước cuộc hãm hiếp tập thể. Thực ra bắn chết anh ta chúng mất đi một món hàng những anh chàng này quả là gan góc. Sau khi bắn vào giữa mặt anh ta chúng không ném anh ta xuống biển vì sợ lộ dấu vết. Rất nhiều máu lênh láng bên xác anh ta khiến trái tim tôi cũng cô lại vì căm giận. Chúng tôi rơi vào hoàn cảnh hoàn toàn bị động trước cái chết, bạo hành và tình dục. Nơi chúng tôi bị trói sau nhiều ngày bốc mùi khăm khẳm của nước tiểu. Ngay cả trong những cơn gió biển lồng lộng. Thứ mùi nhớp nháp vẫn cứ bám lấy chúng tôi. Cửa mình tôi vẫn đau rát sau những đêm dài vì dày vò bởi những con thú. Nó bị rách và có dấu hiệu viêm nhiễm. Chưa bao giờ tôi thấy biển buồn nôn như thế này. Mặt trời thưa thớt rồi đêm ụp xuống. Các vì sao ít ỏi như niềm tin sống sót của chúng tôi đang lịm dần. Bình thường thì cái chết quá xa để một cô gái trẻ như tôi phải nghĩ tới. Vậy mà giờ nó hiển hiện, thường trực trong màn đêm huyền bí mênh mông này. Thằng người Hoa sau khi dày vò tôi với của nợ của hắn liền vạch dái đái ngay vào mặt tôi. Hắn vung vẩy khắp cơ thể tôi. Tôi chỉ ước chưa bào giờ có kí ức, chưa bao giờ có ý thức để chịu đựng sự sỉ nhục này. Một gã tây đen cũng vậy. Hắn thật sự tởm lợm với căn bệnh Cam tẩu mã. Khi hãm hiếp tôi dãi dớt lòng thòng từ miệng hắn chảy lên cơ thể tôi hôi thối. Cơ hàm vặn vẹo như muốn xé nát tôi. Đêm hôm ấy, khi chiếc tầu phải đi vòng qua đảo để ẩn núp thì và phải đá ngầm. Lũ buôn người trước nguy cơ chìm tàu đã bỏ đi những món hàng khổng lồ để lên một chiếc xuồng nhỏ đào thoát. Chúng bỏ lại chúng tôi rũ rượi và không một chút nước uống và thực phẩm nào”.

Tôi lên facebook hàng ngày với hy vong nhặt nhạnh những điều tốt đẹp những tôi chỉ thấy những gào thét và chửi rủa. Những gào thét của cái tôi tiêu dùng yếu đuối và bạc nhược. Tôi tự hỏi họ đã bao giờ đối mặt với khốc liệt thực sự chưa. Chỉ Chúa mới biết. Chúa biết hết mà. Ở một nơi cao xa vời vợi nào đó, Người hẳn đang cười. Các thần linh đã bỏ chúng ta đi. Họ cũng bất lực với những gì họ tạo ra. Nhưng cái tặc lưỡi của Chúa cũng như những cãi tặc lưỡi của con người. Cứ sau mỗi lần tặc như vậy, chúng ta lại một lần đi đến hủy hoại.

Thế giới phẳng. Không. Nó không phẳng chút nào mà nó dốc. Tội ác bị dồn về một góc và kháng sinh lại không đủ để triệt phá cái ung nhọt trên chính cơ thể mình.

“Ngày thứ 4. Sau những nỗ lực của con người bị bỏ lại trên tầu, tạm thời chúng tôi sẽ không bị đắm nhưng cứ lênh đênh trên biển. Cái cam go nhất hiện này là nước và thức phẩm. Đói và khát giữa mênh mông nước là một cảm giác kì cục. Cuộc đời bằng phẳng trước kia không cho chúng tôi một chút kĩ năng tồn tại ở nơi tuyệt vọng bốn bề như thế này. Xác anh chàng bị bắn chết bắt đầu phân hủy. Vài đứa trẻ cũng đang nằm thoi thóp. Trong suy nghĩ của tôi bật lên sự sợ hãi kinh hoàng. Đó là thịt người. Và tôi biết những người xung quanh tôi cũng mong manh mường tượng ra điều đó. Tại sao không ai vứt xác chết xuống biển khi nó đã bắt đầu bốc mùi. Tôi ngờ rằng sau mặt nạ của nhân văn là sự sinh tồn của con người. Đó có thể là thứ thức ăn cuối cùng mà chúng tôi tìm đến. Vớt rong biển và các loài thủy sinh từ chiếc quần lót chỉ đủ cái đói thêm cồn cào. Nước biển mặn chát càng làm chúng tôi cháy đi dưới cái nắng nhiệt đới. Con tàu mất phương hướng trôi lênh đênh theo sóng nhìn vài hòn đảo mà thèm khát một phép lạ. Chúa linh thiêng nơi nào.”

Sau những lời phán xét của Chúa mọi sự vẫn không thay đổi. Người đã bỏ đi và bỏ lại lũ con bơ vơ tự phán xét nhau. Ngay cả phán xét của Chúa cũng chỉ là tạm bợ thì những lập ngôn của con người có nghĩa lý gì đâu khi cứ úp chụp vào đầu nhau. Sự phán xét dù cay nghiệt đến đâu cũng không thể thay đổi sự khốc liệt tàn bạo mà rủi ro một ngày nào đó tôi hay bạn gặp phải. Sự lựa chọn giữa đạo đức và sinh tồn khác với việc những bậc tôi trung giết thịt con dâng vua. Một bên là cái hủ bại của lòng trung một bên là cái sự sống mà có lẽ khi chúng ta mường tượng ra không khỏi buồn nôn. Nhưng đó là sự thực. Có những khi chúng ta phải lựa chọn cái mà chúng ta từng nghĩ là bất nhân hay tàn bạo. Câu chuyện về việc ăn thịt người làm tôi nhớ lại vụ tai nạn máy bay trên núi Andes nổi tiếng với 16 người sống sót trong giá lạnh khắc nghiệt bằng cách ăn thịt những người chết. Lịch sử loài người ăn thịt nhau không phải là quá hiếm hoi. Nhưng do thiên tai, tại nạn gây lên thảm họa đó dễ cảm thông hơn. Còn việc chính con người đầy đọa con người trong hoàn cảnh khốc liệt như trong cuốn nhật ký có viết thì đóng bao nhiêu đinh để chuộc lại nỗi đau này. Thực ra, chúng ta vẫn ăn thịt nhau hàng ngày. Ăn thịt mòn mỏi bằng dẫm đạp và thù hằn. Cái ý niệm của Chúa đã bệnh tật vô phương. Ngày phán xét là do chính con người viết nên.

‘Ngày thứ n. Những người sống sót còn lại đã bắt đầu ăn những xác chết. Uống cả thứ nước chảy ra từ xác chết. Tôi mê man trong cơn đói khát đến mụ mị. Tôi cố giữ cái phẩm chất con người để kinh tởm trước việc ăn thịt đồng loại. Nhưng đói. Rất đói. Cái đói u mê khiến bước chân trở nên mất lý trí. Sau nhiều ngày vật vã, tôi đã thất bại. Tôi cắn miếng đầu tiên là miếng đùi đang bắt đầu rữa. Tôi nôn ọe, nôn hết cả lịch sử đẫm máu và bi thương. Nhưng đến lần thứ 2, tôi bắt đầu bình thản khi ăn những miếng thịt người sống và rữa nát. Tôi không muốn diễn tả tiếp cảm giác này bởi nó thật sự kinh tởm và phi nhân văn, phi đạo đức. Những người đàn ông lịch lãm bên cạnh tôi, đã từng cứu tôi giờ nhai xương rau ráu. Thú tính và sự buông thả trước cái chết, sự sợ hãi cùng cực khiến họ lại trở thành những kẻ hãm hiếp tôi. Sự hãm hiếp để quên đau đớn. Tôi im lặng ở đây vì tôi biết có nhiều người không ưa sự cùng cực của khốc liệt.”.

Tôi cũng cảm thấy chúng ta đang cố quên đi những nỗi đau của đồng loại, Những hiện thực khốc liệt. Ít khi tôi thấy nhà văn, nhà thơ nào nhìn thẳng vào vấn đề của con người. Chính vì sự hèn nhát không giám đi đến tận cùng khiến sự mô tả của họ cùng trở nên nhạt nhẽo và ngây thơ. Họ chỉ luôn dừng ở mơ ước. Tất nhiên trách nhiệm không chỉ thuộc về họ. Họ chỉ là những kẻ trót đau hơn cuộc đời và họ là số ít. Rất ít. Có thể đóng đinh. Chỉ giả sử vậy thôi.

Trang nhật ký đã nát hết những dòng cuối cùng. Thật sự tôi không muốn đi tìm cái kết cho những gì mà chúng ta gọi là thảm họa nhân đạo ở trên. Nhưng sự thực là có muôn ngàn những chuyến đi trên biển, chuyến buôn người, chuyến tị nạn khốc liệt có thể còn hơn như vậy mà cái đẹp nhân văn ít khi cho chúng ta mường tượng về nó. Tôi chỉ tự hình dung mà đưa ra hai cái kết.

  1. Cho những bản đọc không đủ can đảm để đi đến tận cùng: “Con tàu lênh đênh nhiều ngày dạt vào một đảo hoặc được một đội cứu hộ cứu thoát. Vẫn còn những người sống và họ kể lại câu chuyện thương tâm này với báo đài và được chuyển thể thành truyện, thành phim. Lịch sử nhắc tên họ như những con người kiên cường vượt qua sợ hãi để tồn tại. Sự tồn tại như đúng ý Chúa trời.”
  2. Cho những bạn đọc muốn đi đến tận cùng (tất nhiên là số ít): “Con tàu lênh đênh nhiều ngày. Số thịt người dần cũng cạn và thối rữa đến mức không thể ăn được. Trên tàu chỉ con lại cô gái và 2 người đàn ông đã từng bảo vệ cô trước sự bạo hành của đám buôn người. Ba cặp mắt chạm vào nhau. Ai cũng nghĩ kẻ nào sẽ là thực phẩm cho ngày hôm sau”.

Còn bao nhiêu chuyến đi như vậy và muôn vàn cái kết. Chúng ta tự đi tìm những cái kết cho cuộc đời mình và loài người tự viết nên hồi kết cho thế giới.

Đi đến đâu mới là tận cùng của khốc liệt. Đó có thể là nơi tôi được gặp Chúa trời./.


📝 Lời bình của Ban giám khảo 評語|Nguyễn Thư Đình 阮舒婷

在一個偶然的機會,作者在一艘破舊船上撿到一本塵封已久的日記。在這本日記裡,記錄著當時發生的事情。女主角原是一位人口販運的受害者,在船上經歷了無數的摧殘和性侵,有人出手相救卻因此被殺害。船隻觸礁時,船上生活補給品都被拿光沒留下半個,販運人口者迅速逃離,只留下一些受害著和已被殺死的遺體。長期在船上漂流沒有食物之下,只好食用已身亡腐爛的軀體、吸食他的血水來維持生命。

這篇作者讓我們進入感受當時情境是多麼的恐怖、多麼的恐懼。當人危機的時候,必須有的自然求生意志。無論如何,我們不要輕易放棄自己,只要活著就有希望。這種類別作文比較少見,我想讓主題更廣泛與多元。 

發表迴響

你的電子郵件位址並不會被公開。 必要欄位標記為 *